01 tháng 4, 2020

TRƯỜNG XƯA NHỚ MÃI !

TRƯỜNG XƯA NHỚ MÃI !


TUNG CÁNH CHIM KHẮP BỐN PHƯƠNG TRỜI
NHỚ VỀ TỔ ẤM VƯỢT TRÙNG KHƠI
GẶP MẶT NHAU ĐÂY MIỀN PHỐ NÚI
MÂY ÔM NÚI ĐỒI CHIỀU BUÔNG LƠI...

CÓ PHẢI LÀ NƠI ĐÂY LẦN CUỐI
MÌNH GẶP NHAU NHỚ HOÀNG ĐẠO XƯA
TRƯỜNG NĂM CŨ GIỜ TRONG KÝ ỨC
KỂ NHAU NGHE BIẾT MẤY CHO VỪA...

CÙNG NHAU HỘI TRẠI ĐÔNG  VUI QUÁ
TIẾNG ĐÀN CA HÒA GIÓ MÂY BAY
BẬP BÙNG ÁNH LỬA TRONG MÔI MẮT
TIM NỞ NỤ CƯỜI LỆ THOÁNG CAY...

THẦY CÔ GIỜ TÓC MÀU MÂY NÚI
TRÒ NAY GIỜ CŨNG ĐIỂM PHA SƯƠNG
THẤY TRONG NHAU MỘT THỜI TUỔI TRẺ
HOÀNG ĐẠO XƯA ÁO TRẮNG SÂN TRƯỜNG...

NGHIÊNG MÌNH NHỚ THẦY CÔ NẰM XUỐNG
BẠN CỦA MÌNH CÓ ĐỨA RA ĐI
NHƯ NẮNG CHIỀU QUA BÊN KIA NÚI
VỀ VỚI MÂY TRỜI NHỚ KHÔN NGUÔI ...

MEN RƯỢU NỒNG AI TỈNH AI SAY
NHỚ VỀ NHAU NHỮNG PHÚT GIÂY NÀY
BẠN CŨ TRƯỜNG XƯA THẦY CÔ MẾN
TAY BỖNG NGẬP NGỪNG TAY NẮM TAY...

RỒI MAI NÀY MỖI ĐỨA MỘT NƠI
BẠN Ở NƠI ĐÂY, TÔI PHƯƠNG TRỜI
  KỶ NIỆM TRƯỜNG XƯA LƯU DẤU LẠI
TRONG TIM MỖI NGƯỜI TRONG TIM TÔI ...

QUANG NGUYỄN (KHỐI 10 HOÀNG ĐẠO KONTUM)

ẢNH : PHAN VẤN

14 tháng 2, 2020

ẢNH NGÀY XUÂN CANH TÝ - 2020

ẢNH NGÀY XUÂN CANH TÝ - 2020


                  KIỀU THỊ LỢI
                KIỀU THỊ LỢI

                      KIỀU THỊ LỢI

                            KIỀU THỊ LỢI - LÊ KHẢI HOÀN
                              KIỀU THỊ LỢI - LÊ KHẢI HOÀN

                               KIỀU THỊ LỢI - LÊ KHẢI HOÀN
                                     - LÊ KHẢI HOÀN
                                        - LÊ KHẢI HOÀN
                                          KIỀU THỊ LỰU

                                     KIỀU THƯƠNG VŨ - PHẠM NGỌ
                                            KIỀU THƯƠNG VŨ - PHẠM NGỌ

                                        KIỀU THƯƠNG NGUYÊN

                                           KIỀU THƯƠNG NGUYÊN
                                     KIỀU THƯƠNG NGUYÊN

                                 KIỀU MY


09 tháng 1, 2020

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2020 - CANH TÝ

Thiếp chúc mừng năm mới
YEAR OF WHITE METAL RAT ( NĂM CỦA CON CHUỘT BẠCH KIM )
                Năm mới là thời gian của gia đình, của hạnh phúc, của những lời chúc phúc. Hãy dành tặng cho người thân và bạn bè những lời chúc đặc biệt nhất: Những lời chúc hay, dí dỏm và độc đáo sẽ làm cho chúng ta cảm thấy vui vẻ hơn, thoải mái hơn và ấm áp hơn.
                Năm Kỷ Hợi 2019 đã qua, để lại cho chúng ta bao dấu ấn tốt đẹp, đất nước đang tiếp tục chuyển mình mạnh mẽ, kinh tế tăng nhanh, xã hội ổn định, văn hóa không ngừng phát triển. Năm mới Canh Tý 2020 đang đến gần, mở ra một triển vọng mới; dù phía trước còn không ít khó khăn, thách thức, song  vì hạnh phúc của mỗi chúng ta, vì sự phát triển, phồn vinh của đất nước hãy gửi cho nhau những lời chúc coi như những lời hứa cho một năm mới để cùng vượt qua những khó khăn thách thức gặt hái những thành công trong năm 2020
                Chúc năm mới tốt đẹp nhất, chúc quê hương, đất nước thanh bình, thịnh vượng, nhà nhà ấm no, người người mạnh khỏe, hạnh phúc.
                                                                                                           LTKhkontum

07 tháng 1, 2020

Nhà thơ của phố núi Kon Tum

Nhà thơ của phố núi KonTum

(BÁOMỚI.COM)
             Kon Tum - vùng đất Tây Nguyên bao la, hùng vĩ không phải là nơi sinh ra nhà thơ Tạ Văn Sỹ nhưng đã níu kéo ông định cư nơi này, để rồi những văn hóa lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số đã thôi thúc ông khám phá tìm hiểu. Vì vậy, nói đến Kon Tum, người ta nhắc ngay đến 'nhà thơ xe ôm' nổi tiếng kiêm 'nhà địa phương học' - Tạ Văn Sỹ.


Nhà thơ Tạ Văn Sỹ. Ảnh: Hồng Hà
               Tạ Văn Sỹ yêu thơ, làm thơ từ năm 13 tuổi. Đến năm 15 tuổi, Tạ Văn Sỹ đã có thơ được in trên các báo và tạp chí ở Sài Gòn. Cuộc đời Tạ Văn Sỹ, “tai nạn” do thơ mang lại không ít, nhưng niềm đam mê thi ca thì cứ thế thấm đẫm trong con người ông.
               Rời quê hương Tây Sơn, Bình Định từ năm 1965 lên “định cư” tại Kon Tum, ông là người từng vác cuốc đi vỡ đất hoang làm rẫy sinh sống, rồi kể từ đó, ông đã chính thức trở thành “người con” của mảnh đất Tây Nguyên.
           Kon Tum - phố núi tuy không rộn ràng nhưng ấm áp, bởi những con đường chen núi đá, đá chen rừng. Thiên nhiên ban tặng cho Kon Tum một vẻ hoang sơ mà vương vấn lạ, đặc biệt, dòng sông Đăk Bla như dải lụa mềm uốn lượn, vắt ngang qua thành phố.
             Ngay từ năm 1992, nhà thơ Tạ Văn Sỹ đã sáng tác bài thơ “Một chút Kon Tum” như tấm lòng tri ân với mảnh đất quê hương thứ hai của mình. Lời thơ sâu lắng, thiết tha, thay tiếng lòng của người Kon Tum nhắn với khách phương xa về thăm phố núi. Bài thơ được nhạc sĩ Võ Ngọc Minh phổ nhạc phổ biến rộng rãi, ngay sau khi Kon Tum vừa chia tách khỏi tỉnh chung Gia Lai - Kon Tum.
“Bởi lần đầu anh đến thăm em
Em đưa anh thăm phố yên lành
Kon Tum nhỏ bởi lòng thung nhỏ
Chầm chậm thôi, vội bước chi nhanh
Anh thấy không, phố bốn bề xanh
Rừng vây quanh, núi cũng vây quanh
Đất vẫn xuôi mà sông chảy ngược
Trời rộng thênh, mây trắng yên lành...”
(Một chút Kon Tum).
             Tạ Văn Sỹ là một nhà thơ đặc biệt, người ta thường gọi ông là “nhà thơ xe ôm phố núi”. Ông là hội viên duy nhất của Hội Nhà văn Việt Nam không bằng cấp. Trên con đường mưu sinh bởi chiếc xe máy cà tàng, ông luôn mang trong mình tình yêu đối với quê hương, xứ sở, yêu người, yêu đời tha thiết để rồi bật lên những vần thơ thấm đẫm tình người:
“Vâng, thì tôi - kẻ đa tình
Dở - hay, thôi, cũng trời sinh vậy mà
Làm sao trong cõi người ta
Mà không yêu đến thiết tha hết mình
Mẹ cha cho cái xác hình
Trời thương cho cái tính tình thế thôi
Tôi si mê hết mọi người
Và yêu thương cả cuộc đời đáng yêu...”
(Đa tình).
Hay:
“Sống tràn qua những tuổi
Ngày tháng tuột sau lưng
Mắt quen nhìn thấy núi
Nên hồn xanh như rừng”
(Ở Kon Tum).
              Tạ Văn Sỹ đã dành cho Kon Tum - quê hương thứ hai của mình một tình cảm đặc biệt. Có quãng thời gian dài, ông đã cất công sưu tập, tuyển chọn và biên soạn Tuyển tập Kon Tum - Thơ với 123 tác giả, 123 bài thơ tiêu biểu về Kon Tum. Cuốn sách được đông đảo bạn đọc đánh giá như là một cuốn lịch sử Kon Tum bằng thơ.
               Tuy không bằng cấp, nhưng nhà thơ Tạ Văn Sỹ lại là người có vốn hiểu biết sâu rộng, đặc biệt là vốn hiểu biết về văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum, đến nỗi người ta còn gọi ông là “nhà địa phương học”. Nếu đến Kon Tum mà muốn tìm hiểu về vùng đất này, bạn cứ tìm gặp “nhà thơ xe ôm” Tạ Văn Sỹ.
                Ngoài sáng tác thơ, ông còn hăm hở viết báo, viết ký, phần nhiều trong đó là những bài viết về các vấn đề văn hóa - xã hội Kon Tum. Ông cũng đã cho ra mắt tập ký với nhan đề Tạp ký Kon Tum trên 280 trang, tập hợp những bài viết có liên quan đến những vấn đề văn hóa - xã hội của vùng đất Kon Tum đã được giới thiệu trên các báo và tạp chí cả nước.
                   Tạ Văn Sỹ tuy nghèo nhưng rất khí khái. Ông hay rong ruổi khắp nơi bằng chiếc xe máy cà tàng của mình để lấy tài liệu bài viết. Ông yêu thơ và thơ cũng đã đáp đền tấm chân tình của ông bằng bạn bè văn chương ở mọi miền đất nước. Đối với thơ, ông quan niệm: “Cuộc đời mỗi con người như một cuộc dạo chơi trong vườn hoa đầy hương và sắc. Muốn làm một nhà thơ, nhà văn, trước hết hãy là một con người có văn hóa, hãy trở thành nhà văn hóa. Văn hóa ở đây mang nghĩa rộng chứ không bó hẹp trong sách vở. Cái cần nhất vẫn là cái cốt cách một con người có văn hóa mới là người nhân văn...”.
              Nhà thơ Tạ Văn Sỹ, sinh năm 1955, tại Tây Sơn - Bình Định. Năm 1965, ông lên định cư tại Kon Tum cho đến nay. Ông là hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Kon Tum; Hội Văn học - Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam. Đến nay, nhà thơ Tạ Văn Sỹ đã xuất bản các tập thơ: Mặt đất (tập thơ, 1997), Cõi người (tập thơ, 2003), Trời xa (tập thơ, 2006), Tùy khúc (tập thơ, 2010), Thơ Kon Tum 100 năm (hợp tuyển, 2012), Kon Tum tạp ký (tạp văn, 2012), Ở núi (tập thơ, 2013). Ông đã được giải C cuộc thi thơ Tứ tuyệt của tập san Áo trắng - Nhà xuất bản Trẻ 1991, giải B về thơ của UBND tỉnh Kon Tum 2001, giải C cuộc thi thơ Lục bát của tuần Báo Văn nghệ trẻ 2002, giải A của UBND tỉnh Kon Tum năm 2013...
Nguyễn Thị Hồng Hà

11 tháng 10, 2019

XUẤT XỨ VÀ NGUYÊN VĂN BÀI THƠ KHÚC THỤY DU CỦA DU TỬ LÊ



XUẤT XỨ VÀ NGUYÊN VĂN BÀI THƠ KHÚC THỤY DU CỦA DU TỬ LÊ
Chu Mộng Long - cùng nhiều người biết Khúc Thụy Du nhờ một đoạn ngắn được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Cái đoạn ngắn này gây ngộ nhận đó là một bài thơ tình. Sự thực đó mà một bài thơ dài gắn liền với chiến dịch Mậu Thân đẫm máu. Bài thơ viết về thân phận con người trong chiến tranh. Những kẻ chưa ngửi thấy mùi máu của chiến tranh mới hung hăng hiếu chiến, thích lấy máu người khác tô thắm vòng nguyệt quế chiến công của mình.
Ngoài Bắc Việt chắc chắn không có loại thơ như thế này. Nếu có thì nhà thơ đã chết ngay sau khi bài thơ ra đời chứ không thể sống đến 77 tuổi!
------------
Bài viết của Du Tử Lê.
Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu.
Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải toả khu Ngã tư Bảy Hiền.
Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TLC ( Tâm Lý Chiến) ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội CS.
Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.
Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ…
Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi người chết sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…
Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản.
Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại – Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu.
Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng.
Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…
Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi.
Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung!
Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ.
Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)
Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ – bày quả rỉa xác người – (của tươi đời nhượng lại) – bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân…
Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?
Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.
Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).
Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 973.
Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô…
Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh:
“Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”
Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau. Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.
Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…
Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…

(1-30-2010.)
Du Tử Lê
Bài thơ KHÚC THỤY DU ( Bản Gốc) :
1.
như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vũng nước cuộc đời

như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được

như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay

trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gặm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình

trên mặt đất nhiên lặng
không tăm nào sủi lên
đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi ?

2.
mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài

ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thụy ơi và thụy ơi

tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thụy ơi và thụy ơi
đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết

tình yêu như ngọn dao
anh đâm mình, lút cán
thụy ơi và thụy ơi

không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể

anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển

(tháng 3-1968)
Du Tử Lê (sinh năm 1942 mất ngày 07/10/2019 thọ 77 tuổi) .

LTKhkontum sưu tầm