04 tháng 6, 2016

MÙA GẶT LÚA QUÊ TÔI

Mùa gặt lúa quê tôi

authorCông Tâm  
Sự kiện: Hương quê

(D V) Mỗi lần, cứ đến mùa gặt là không khí quê tôi nhộn nhịp lắm. Người lớn hăng hái làm các công việc thu gặt, vận chuyển lúa, còn trẻ em chăn trâu, bắt châu chấu, bắt cá bên bờ mương, cánh đồng.

                 Nhà dì tôi có mấy sào lúa. Trước ngày gặt, dì tôi  chạy đôn chạy đáo khắp nơi huy động người thân và thuê thêm công để gặt, vận chuyển lúa. Mỗi người một việc khác nhau, người thì gom lưỡi liềm, người tìm phương tiện vận chuyển, người lấy nước uống và tôi được giao nhiệm vụ làm thức ăn cho mọi người.
 mua gat lua que toi hinh anh 1
Cánh đồng mùa gặt.

                Thức ăn phục vụ những buổi gặt chủ yếu là cơm nóng, kèm theo hạt đậu lạc rang khô giã cho nhuyễn  hòa với ít muối, ít đường. Bát cơm nóng buổi sáng kèm với đậu lạc, ăn vào rất thơm và no đến trưa.
Ai ai cũng hăng hái ra đồng gặt lúa, trai tráng vận chuyển lúa, phụ nữ gặt bông lúa, còn những trẻ em chăn trâu xung quanh những khu vực đã gặt, bắt châu chấu, rồi vui đùa với nhau. Một số em khác thì tìm những nơi bờ mương có nước cạn để bắt cá.
 mua gat lua que toi hinh anh 2
                
                Mặt trời mới vừa nhô lên cũng là lúc mọi người thu hoạch lúa gần xong, những bó lúa được trải dài trên tấm bạt. Sau khi lúa gặt xong là lúc người lớn đã thấm mệt, áo ai cũng đẫm mồ hôi, những trẻ em quần áo lem luốt bởi những trò chơi tinh nghịch trên đồng.
Có những lúc gặt xong, dì tôi không quên tìm kiếm những con cá rô đem về làm món cá chiên xù cho bữa trưa.
Kể từ khi tôi xa quê, sống ở thành thị, rất hiếm khi có dịp để tham gia cùng mọi người gặt lúa trên cánh đồng quê. Mùa gặt đã đánh thức tuổi thơ của tôi khi mỗi lần về thăm quê. Hình ảnh người gặt lúa, người gánh lúa đã in sâu tâm trí của tôi.

17 tháng 5, 2016

Hoa phượng đỏ đầu mùa hè

 Ký ức tháng Năm mùa hoa phượng
Sự kiện: Hương quê

Tháng Năm về, khi tiếng ve kêu râm ran, mang theo những chùm phượng đỏ rực, những bông bằng lăng nhuộm tím góc trời... Và tháng Năm về, các cô, cậu học trò lại bắt đầu mê mải với mùa thi, mùa chia tay cùng những dòng lưu bút...

 ky uc thang nam mua hoa phuong hinh anh 1
Tháng Năm, rực sắc hoa phọng đỏ (Ảnh: Internet)
Thời gian lặng lẽ trôi!
Thấm thoắt đã gần chục năm tôi rời xa mái trường, thầy cô, bạn bè. Vậy mà chỉ mới đây thôi, tôi vẫn là cô học trò tinh nghịch, hay trêu chọc cô giáo dạy môn Giáo dục Công dân mỗi khi cô lên lớp, hoặc bất ngờ đi kiểm tra đồng phục của các bạn lớp khác để... "bắt lỗi". Ba năm cuối của tuổi học trò ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, tôi cảm nhận được sự hy sinh thầm lặng của cô giáo dạy Văn, sự nhiệt tình của thầy giáo dạy Ðịa, sự ân cần của “người mẹ” dạy Hóa.
Mặc dù xuất phát từ những vùng quê khác nhau của mảnh đất Thái Bình, nhưng các thành viên trong lớp luôn hòa thuận, đồng lòng, sẻ chia những vui buồn trong cuộc sống. Phải chăng, thời gian có thể dừng lại một chút để ta có thể sống lại thưở học trò, cho ta sống thêm một lần thôi để ta biết trân trọng khoảnh khắc này. Và phải chăng, thời gian có thể quay ngược lại để ta có thể hiểu ta hơn.
Màu đỏ của phượng, màu tím của bằng lăng và màu trắng tinh khôi của chiếc áo dài ngày ngày ấy như vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí tôi. Những cái ôm siết chặt vai nhau, tiếng khóc nấc lên hẹn ước về một chân trời mới… Một thời áo trắng trong sáng và tinh khôi là vậy, ôm sao cho hết, ôm sao để được tròn đầy những gì đã qua.
 

Ði qua những mùa thi, tôi mới chợt hiểu ngày mai thôi, chúng tôi sẽ chẳng còn dịp để ngồi lại bên nhau giải đáp những bài toán khó, sẽ không còn không khí của phòng học những buổi đến trường.
Hôm nay sao vắng vẻ và yên tĩnh quá. Gần chục năm quay trở lại mái trường, cái cảm giác ngày ấy lại tràn về trong tôi. Giọng hát ấy, tiếng khóc ấy, tiếng cười ấy như vẫn còn văng vẳng quanh đây. Thời gian trôi nhanh, lớp học trò khác lại đến rồi đi, để rồi sẽ thành công, vững vàng, bản lĩnh trên quãng đường phía trước.
Theo Đặng Anh (Báo Thái Bình)

14 tháng 5, 2016

Phạm Ngọc Lân : – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp
. Kontum, sông Dak Bla “nước chảy ngược dòng”
                 Mái tóc Colette tung bay trước gió, vài sợi mỏng mảnh lòa xòa vào mặt Long. Năm 1963 chưa có luật phải đội mũ an toàn khi đi xe hai bánh có gắn máy, và cũng chưa ai nghĩ ra chuyện bịt mặt khi ra đường vì chưa biết ô nhiễm là gì cả! Chạy xe hai bánh ngoài đường hồi đó còn là một thú vui, nhất là với thanh niên nam nữ chở nhau đi chơi.
                 Chiếc Lambretta băng qua cầu Dak Bla chạy ra ngoài thành phố đến vườn bắp ngay gần đấy. Mua bắp non tại vườn về nấu chè bắp, ngon khỏi chê! Người ta nói bắp qua sông sẽ nhạt đi, chẳng biết có đúng không, nhưng đối với chàng thanh niên 19 tuổi lúc này, nhạt hay không nhạt có quan trọng gì khi mà chàng đang cầm tay lái chiếc xe hai bánh, với cô bạn gái ngồi nép phía trước, vì cô bé tinh nghịch muốn tập lái xe Lambretta, dù biết chắc là không thể nào có sức để dựng nổi chiếc xe nặng nề này khi đậu lại!
                  Tháng 7 năm 1963, Long về Kontum nghỉ hè với gia đình. Ông Quy cha dượng của Long sau hai năm ở Phù Cát, rồi hai năm ở Quy Nhơn, năm 1961 phải đổi lên Kontum. Bà Quy lại phải một phen dọn nhà, bà đã quá chán ngán chuyện dọn đồ dọn đạc cực nhọc, chưa kể là câu châm ngôn “ba lần dọn nhà bằng một lần nhà cháy” cũng không quá đáng lắm! Nhưng bà không còn than phiền gì nữa, vì bà bắt đầu cam chịu với số phận của vợ một quân nhân phải tha cả đàn con theo cuộc đời phiêu bạt của chồng. Mà đàn con thì càng ngày càng đông, khi từ giã Đà Lạt có tất cả 8 đứa, ở Phù Cát thêm hai đứa nữa là 10, ra Quy Nhơn thêm đứa nữa là 11. Ngày xưa các cụ cứ nghĩ gia đình đông con là nhà có phúc, nhưng đến thế hệ cha mẹ Long thì đã nghi ngờ nguyên tắc này rồi, dù cũng chẳng biết phải làm gì cụ thể để “kế hoạch hóa gia đình” như sau này.
                  Thật ra ông Quy không phải bị đổi đi đơn vị khác, mà ông chỉ theo đơn vị của mình là Trung đoàn 40 Sư đoàn 22 lên trấn giữ thành phố cao nguyên có tầm quan trọng chiến lược này vì tỉnh Kontum nằm ngay trong vùng gọi là “ba biên giới” giữa Việt Nam, Lào và Cam-Bốt. Đường mòn Hồ Chí Minh dọc dãy Trường Sơn dùng để chuyển binh lính và quân trang quân dụng từ miền Bắc vào trong Nam đi theo biên giới Lào-Việt, đến gần thành phố Kontum quẹo phải dọc theo biên giới Lào – Cam-Bốt, dẫn tới các căn cứ trong địa phận Cam-Bốt. Những căn cứ này được dùng làm hậu phương cho các đơn vị bộ đội miền Bắc xâm nhập vào miền Nam Việt Nam.
                 Những địa danh như Dak Tô, Tân Cảnh, đồi Charlie, sau này sẽ đi vào lịch sử chiến tranh vì những trận đánh ác liệt diễn ra ở những vùng đất này. Tháng 11 năm 1967 là chiến dịch Dak Tô Tân Cảnh kéo dài mấy tuần lễ, một cuộc đụng độ quan trọng với sự tham gia cấp sư đoàn của bộ đội miền Bắc chuyển vào chạm trán với quân đội Hoa Kỳ cùng với quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau cuộc đọ sức, cả hai bên đều ca bài chiến thắng vì cả hai bên đều đã giết được một con số lớn binh lính đối phương. Hàng ngàn thanh niên cả hai bên gục ngã trên các ngọn đồi hoang vu, để rồi sau đó những ngọn đồi đẫm máu này lại trở về với thiên nhiên không một bóng người. Đánh nhau không phải để tiến chiếm lãnh thổ, mà chỉ để giết địch.
                Tháng 4 năm 1972, một chiến dịch lớn trong vùng Kontum, đồng thời với Quảng Trị và An Lộc, lần này không còn lục quân Hoa Kỳ tham chiến nữa, nhưng không quân Hoa Kỳ vẫn còn yểm trợ các trận đánh cũng ác liệt không kém năm 1967. Quân miền Bắc tiến chiếm vùng Dak Tô Tân Cảnh và đánh thẳng vào thành phố Kontum, có lúc đã chiếm một phần của thành phố, nhưng cuối cùng đã phải rút khỏi thành phố trước sức phản công mãnh liệt của quân miền Nam. Chính tại thời điểm này mà địa danh “Charlie” được biết đến qua bản nhạc nổi tiếng của Trần Thiện Thanh “Người ở lại Charlie” tôn vinh sĩ quan chỉ huy trưởng đơn vị Nhảy dù đã bỏ mình trên ngọn đồi Charlie án ngữ vùng Dak Tô này. Charlie chỉ là tên được đặt ra trong trận chiến để chỉ một ngọn đồi, theo thứ tự A, B, C (như Alpha, Bravo, Charlie...) cho dễ nhớ. Nếu không có bài hát thì sau trận chiến sẽ không còn ai biết đến Charlie ở chỗ nào, có chăng cái tên này chỉ còn nằm trong ký ức của những người lính từng vào sinh ra tử ở đấy.
               Nhưng đó là chuyện sau này. Năm 1963 chưa có những trận đánh lớn trong vùng nên cuộc sống ở thành phố Kontum thật thanh bình, nhất là đối với Long chỉ về đây nghỉ hè sau thời gian bù đầu với học hành và cuộc sống hối hả ở Sài Gòn. Thành phố bé xíu, nhỏ nhất trong ba thành phố cao nguyên là Ban Mê Thuột, Pleiku và Kontum. Pleiku nổi tiếng với câu “đi dăm phút đã về chốn cũ...” trong một bài hát, mà Kontum còn nhỏ hơn Pleiku nhiều! Nhỏ xíu và thật dễ thương. Và khác với hai thành phố kia đất đỏ, Kontum đất cát trắng nên không có cảnh “bụi đỏ phủ kín màu xanh lá” như Ban Mê Thuột và Pleiku.
 

             Thành phố nhỏ nhưng có từ lâu đời, từ thời Pháp thuộc đã có tòa Giám mục, có Đại chủng viện, và có một nhà thờ gỗ rất đẹp vẫn còn tồn tại đến bây giờ.
             Về đây Long gặp lại H., một bạn học ở trường Adran Đà Lạt trước kia và bây giờ cùng sống trong cư xá Đắc Lộ Sài Gòn. Gia đình H. sinh sống lâu đời ở Kontum, nhưng vì từ nhỏ H. đi học xa như Long nên cũng không có bạn trong tỉnh này. Hai tên gặp nhau mừng quá, ngày nào cũng hẹn đi chơi chỗ này chỗ nọ. Và chính H. là người đưa Long đến nhà Colette giới thiệu với hai chị em học nội trú trường bà sơ Franciscaines ở Đà Lạt, cũng chỉ về Kontum nghỉ hè. Ba của hai cô này là một sĩ quan cùng đơn vị với cha dượng của Long, và cũng có hai dòng máu Pháp Việt như Long. Ông có đầu óc theo Tây học nên không cấm đoán việc hai cô con gái mình giao du với hai chàng trai cùng chung hoàn cảnh là ở xa về không có bạn bè tại chỗ. Ông cũng biết rằng cuộc giao du giữa mấy đứa trẻ mới lớn rất hồn nhiên, vì cùng chịu ảnh hưởng của lối sống Tây u, không e dè, cũng không có hậu ý.
Long và H. thường xuyên đến nhà Colette chơi. Thường là nghe nhạc rồi tập đàn hát theo. Lúc đó cả hai tên con trai đều mới tập tễnh biết từng tưng trên cây tây ban cầm cũ kỹ, cũng ráng đệm đàn cho cả đám hát. Long còn nhớ mãi những bài ướt át như Nửa Đêm Ngoài Phố, Hai Lối Mộng, Chiều Cuối Tuần.
.. rất được ưa chuộng trong các quán cà phê tỉnh lẻ thời đó, ban đêm nghe văng vẳng giọng Thanh Thúy trong thành phố Kontum đìu hiu buồn, mới thấy thật thấm thía! Ngược lại là những bản nhạc Pháp của ca sĩ trẻ “yé-yé” rất thịnh hành bên Pháp thời đó, cũng lan qua giới trẻ ở các thành phố miền Nam. Phải kể đến những ca sĩ như Françoise Hardy (“Tous les garçons et les fillesii” do chính cô sáng tác và thu đĩa năm 18 tuổi), Sylvie Vartan (“Tous les copains”), Richard Anthony (“J’entends siffler le train”) Adamo (“Tombe la neigeiii”)...
 

                  Lâu lâu cả bọn rủ nhau đi ra ngoài phạm vi thành phố, đến các bản làng của người thiểu số, vùng này nhiều nhất là người Ba-na
                   Kontum đặc biệt có sông Dak Bla “nước chảy ngược dòngii” uốn khúc bao bọc hai phía đông và nam thành phố, chỉ cần đi ra khỏi Kontum vài cây số là đã có cảnh thiên nhiên hữu tình. Đặc biệt có một nơi có bãi cát ven sông nước trong suốt, tắm rất thích, có tên từ thời Pháp là bãi “Paradis” có nghĩa là “Thiên đường”.
                    Người Ba-na là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, sinh sống trên vùng Gia Lai Kontum là chính, dân số trên hai trăm ngàn người. Ở mỗi làng có một nhà công cộng là "nhà rông" cao lớn, đứng nổi bật giữa làng. Một nhân vật nổi tiếng người Ba- na là ca sĩ Siu Black được giới mộ điệu âm nhạc biết đến từ thập niên 90.
                  Từ Pleiku đi theo quốc lộ 14 về phía bắc phải qua cầu Dak Bla để vào thành phố Kontum. Có câu “Sông Dak Bla nước chảy ngược dòng” vì nước chảy về phía tây. Đa số các con sông của Việt Nam đều chảy ra biển Đông, tức là phía đông. Sông Dak Bla không chảy ra biển mà chảy ngược lại vào đất liền, nên mới có câu “chảy ngược”. Thành phố Kontum nằm trên cao, con sông Dak Bla chảy về phía tây, đổ vào con sông Sesan, rồi con sông này đổ vào sông Mekong bên Cam-Bốt.

                   Long chỉ có chiếc xe đạp, nhưng khi cần thì chàng mượn xe Lambretta của cha dượng. Ông Quy cũng rất “chịu chơi” với Long, sáng Long chở ông đến nơi làm việc rồi lấy xe đi chơi, chiều đến đón ông về.
                      Một lần có xe Lambretta, Colette đòi tập lái nên mới có cảnh Long ngồi sau phải vòng tay ra phía trước giữ tay lái cho chắc ăn. Trong thành phố Kontum nhỏ bé vào thập niên 60 này, đây là một cảnh “trêu ngươi” trong một xã hội thấm nhuần nguyên tắc “nam nữ thụ thụ bất thân” của Khổng Mạnh! Nhưng hai bạn trẻ này chẳng đếm xỉa gì đến dư luận dèm pha, vì dù sao thành phố này cũng chỉ là nơi nghỉ hè thoáng qua, chẳng sống lâu dài để phải sợ dư luận.
                    Long với bản chất lãng mạn tự nhiên, nên cũng thầm kín có tình cảm đặc biệt với người bạn gái, nhưng trong cách giáo dục mà chàng được hấp thụ, và với bản tính nhút nhát, chàng không khi nào vượt quá ranh giới của quan hệ bạn bè, mà tự hài lòng với câu “và như thế tôi sống vui từng ngày” trong một bài hát nổi tiếng sau này

. Rồi cũng đến lúc phải chia tay mỗi người một ngả, mang theo kỷ niệm êm đềm của những ngày vui đùa thảnh thơi của tuổi trẻ vô tư lự. Dòng thời gian cứ thế cuốn đi những mảnh đời đã có lúc tụ lại với nhau vui đùa, để rồi chẳng còn khi nào gặp lại nhau nữa.
 

16 tháng 4, 2016

CÂY MÍA TÍM

Ăn mía tím, nhớ cái thời “ngô nghê”!

authorNguyễn Hoàng Duy  
Sự kiện: Hương quê

(D V) Tuổi thơ tôi không êm đềm, mà dữ dội như dòng sông đục ngầu phù sa trước nhà. Sóng lúc nào cũng cuộn trào bởi những chiếc tàu, ghe qua lại. Ngày đó nhà tôi nghèo nhất xóm. Khác với bọn trẻ cùng trang lứa, tôi rất hiếm khi có được món quà, tấm bánh mỗi ngày.

Nhiều bạn tôi khi ấy luôn được quà, có khi là một ổ bánh mì, gói xôi, bánh da lợn, bánh tằm mì... hay đại khái là những món được mua ngoài chợ. Còn nhà tôi, thay vì sáng sớm mẹ xách giỏ đi chợ thì lại mang lưỡi hái ra đồng gặt lúa, cắt cỏ. Thức ăn trưa được mẹ mang về từ đồng, chứ không phải ở chợ. Khi thì con cá rô, cá sặc, có lúc lại là trứng vịt đẻ rớt khi chạy đồng...
 an mia tim, nho cai thoi “ngo nghe”! hinh anh 1
Bãi mía tím sau nhà tôi.
Không có quà bánh, nhưng không có nghĩa là tôi thèm thuồng. Quanh nhà thiếu gì thứ để ăn. Rảnh rỗi, tôi đi hái quả nhãn lồng, chuối chín bói trên cây hay quả ổi sẻ đỏ au. Buồn cười nhất có khi sáng sớm trèo cây hái ổi nhai ngấu nghiến. Kết quả dạ cồn cào, đau bụng nằm thườn thượt. Nhưng rồi lại cứ muốn ăn vì buồn miệng, vì nghịch ngợm.  
Ngày đó, Tôi thích nhất là ăn mía tím. Sau nhà mẹ có trồng liếp mía tím để bán kiếm tiền chợ. Có hôm nghĩ đến mía, vừa đi học về, điều đầu tiên tôi làm là mang dao ra bãi mía để tìm cây to mập. Khi đã chặt sạch góc, ngọn, tôi chặt thành khúc, rồi cứ thế đưa lên miệng mà xước.
 an mia tim, nho cai thoi “ngo nghe”! hinh anh 2
Mía tím, còn được gọi là mía ngự.
Mía tím ngọt dịu, vỏ và thịt thì mềm, nên dù hàm răng non nớt của trẻ con như tôi vẫn không bị tổn thương. Ăn thô chán chê, tôi róc vỏ, tiện thành khẩu nhỏ rồi bỏ vào thau ướp lạnh. Ngày đó tủ lạnh là thứ xa xỉ. Nước đá khá đắt vì cả huyện chỉ có hai nhà máy nước đá nên chỉ dùng làm giải khát là chính. Nhưng muốn ngon nên tôi dùng số tiền bán được từ việc cắt rau muống để mua nước đá về ướp vào thau nhôm.
Những bữa như vậy, tôi gọi lũ bạn trong xóm đến cùng ăn chung cho rôm rả. Mía tiện ướp nước đá mà chấm với muối ớt ngày đó thú vị vô cùng. Ngoài vị ngọt đặc trưng còn có vị cay của ớt, mặn của muối và chát chát của phần vỏ róc còn vương lại. Ngoài ra, mía tím để nguyên rễ, có thể ngâm dưới nước 2-3 ngày rồi mang lên róc ăn. Mía sẽ thơm mùi nước và cả vị phù sa của làng quê thanh bình.  
Giờ mỗi lần dùng mía tím, tôi lại bắt gặp tuổi thơ dữ dội và thân thương của mình trong đó. Bãi mía tím sau nhà vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Nghĩ đến mà nhớ má, nhớ nhà da diết quá đi thôi!

15 tháng 4, 2016

ĐẬU HŨ - GIẢI NHIỆT MÙA HÈ

Món tào phớ của ba miền Bắc – Trung – Nam có gì khác?

authorTheo Tuệ Linh/ Báo ngaynay  
Sự kiện: Ẩm thực Việt

(D V) Cùng là một món ăn với nguyên liệu giống nhau nhưng ở ba miền, tào phớ lại có mùi vị riêng mà người ta khó thể quên.


Chẳng nhớ tào phớ có xuất phát ở đâu, có người đồn rằng đồ ăn này có nguồn gốc từ Trung Hoa với tên gọi Tofu nhưng ở Việt Nam thì món ăn này cũng có từ lâu lắm rồi.
Tào phớ hay còn gọi là tàu phở, tàu hủ, đậu hũ nước đường… được làm từ đậu tương. Khi ăn pha thêm nước đường vừa miệng, có vị ngọt mát, thơm nhẹ là món từ người già đến trẻ nhỏ yêu đều yêu thích.
Ở Hà Nội, người ta bắt gặp những gánh tào phớ rong của các bà các mẹ khắp các con phố. Tào phớ được đựng trong những chiếc thùng cao bên trên có nắp đậy. Một bên là nước đường pha có thơm mùi hoa nhài dìu dịu.
 mon tao pho cua ba mien bac – trung – nam co gi khac? hinh anh 1
Người ta dùng muỗng gạt từng thìa tào phớ mỏng vào bát sao cho miếng tào phớ vẫn còn sánh rồi chan thêm nước đường, cho thêm vài giọt dầu chuối, vài cục đá viên là đủ để xua tan cái nóng mùa hè, khiến người ăn cảm thấy vô cùng thoải mái.
Đó là ở miền Bắc còn miền Trung, tào phớ lại được gọi bằng cái tên khác đậu hũ. Đậu hũ miền Trung hơi khác so với tào phớ miền Bắc. Đậu hũ miền Trung có thêm chút gừng giã dập hoặc xắt lát bỏ vào khiến bát đậu hũ thơm hơn bình thường. Ở Huế, khi ăn đậu hủ thường không chan ngập nước đường như ở Hà Nội mà tùy theo yêu cầu của khách hàng người bán hàng sẽ rắc đường lên trên hoặc không.
 mon tao pho cua ba mien bac – trung – nam co gi khac? hinh anh 2
Miền Trung đã vậy, miền Nam món ăn này lại có một tên gọi khác là tàu hũ. Tàu hũ miền Nam đặc hơn, sánh hơn, có thể có cả nước cốt dừa cho thơm. Ở Sài Gòn, cách thưởng thức tàu hũ cũng rất sáng tạo, không chỉ phổ biến cách ăn thông thường như ở miền Bắc và miền Trung, mà còn phổ biến nhiều cách thưởng thức khác như là tàu hũ dầm với nước đá, nước dừa… gọi là tàu hũ đá. Có những nơi họ còn ăn tàu hũ với nhiều món phụ khác như trân châu, thạch, hạt sen, long nhãn nữa.
 mon tao pho cua ba mien bac – trung – nam co gi khac? hinh anh 3
Dù có sự khác nhau ở mỗi miền nhưng món ăn làm từ đậu nành vô cùng đơn giản này vẫn luôn thu hút mọi thực khách.

10 tháng 4, 2016

LỚN LÊN TỬ NƯỚC NẤU CƠM SÔI .

Ngọt bùi nước cơm sôi

authorCúc Tần (DV)  

(D V) Hồi má tôi còn sống, lâu lâu tôi nhõng nhẽo đòi má cho uống nước cơm sôi. Má lụm cụm vo sơ gạo trong cái nồi xi kên, cho khá nhiều nước lạnh vào trước khi bắc lên bếp lửa.


         Cơm sôi lụp bụp đậy nắp vung, má hai tay cầm giẻ bếp, nghiêng miệng nồi vào cái tô để chắt nước cơm. Sau đó, má đặt nồi cơm lên bếp, giở nắp vung, dùng đũa bếp xơ cơm. Đậy nắp vung xong, má cho vào tô nước cơm sôi lượng đường cát vàng vừa đủ ngọt, tôi húp một cách khoái trá.
 ngot bui nuoc com soi hinh anh 1
Nước cơm sôi, gợi nhớ một thời nuôi tôi khôn lớn.  (Ảnh: ĐỨC KHÁNH)

              Nhìn tôi húp nước cơm sôi một cách hả hê, má tôi cười, mắng: “Tổ cha mầy!”. Rồi má nhắc chuyện “đời xưa” mà tôi đã nghe không biết bao nhiêu lần những khi được uống nước cơm sôi. Rằng, hồi tôi chào đời là lúc kinh tế cả nước trong cơn thắt ngặt mà người ta gọi là thời “bao cấp”. Bấy giờ người dân được nhà nước phân phối từ cây kim sợi chỉ đến những mặt hàng thiết yếu theo định lượng ít ỏi. Sữa bò là món hàng “xa xỉ”. Nhà nghèo, không đủ tiền mua sữa, nội tôi phải chắt nước cơm sôi pha đường, giặm thêm chút muối đút tôi uống. Tôi lớn lên theo thời gian với nước cơm sôi pha đường.

Không cả sữa bò, chỉ với nước cơm sôi pha chút đường mà tôi lớn phổng phao, thế mới ngộ. Ai cũng khen tôi đẹp gái. Không biết có phải vì uống quá nhiều nước cơm sôi mà trong tôi lúc nào (khi đã lớn, lúc má mãn phần) cũng thòm thèm chất nước hơi sệt béo ngọt kia? Bẵng đi một thời gian, khi đã lớn, với việc đi học xa nhà; sau này lại làm việc nơi cơ quan cùng bao nhiêu phức tạp trong đời sống, vẫn không làm sao xóa nhòa chất nước “linh diệu” kia trong tôi. Tôi vẫn thèm!

              Ngày nay, cuộc sống ồn ào, náo nhiệt, cuốn theo vòng xoáy thời gian với bao nỗi lo toan cơm áo, gạo tiền…, chính vì thế nồi cơm điện luôn hiện hữu trong tất cả gia đình bởi tính tiện lợi của nó. Bao năm về lại quê nhà, hình bóng người mẹ già cặm cụi chắt chiu từng giọt nước cơm nuôi con khôn lớn ngày nào, giờ đây vẫn không phai mờ trong tôi...